VietCatholic Network Print Copy To Clipboard
Từ Điển Thuật Ngữ Báo Chí Công Giáo: Gradation of Virtues – Györ
VietCatholic News (02 Jul 2009 01:07)
Gradation Of Virtues
Đẳng cấp nhân đức. Là thứ bậc cao thấp giữa các nhân đức. Các nhân đức siêu nhiên được xếp cao hơn nhân đức tự nhiên. Trong các nhân đức siêu nhiên, nhân đức đối thần cao hơn nhân đức luân lý, và trong các nhân đức đối thần, đức cậy là cao hơn đức tin, và đức ái là cao hơn đức tin và đức cậy. Tuy nhiên trong thực hành không thể có đức ái (hay đức tin) mà không có đức cậy, và không thể có đức ái hay đức cậy mà không có đức tin. Trước tiên tâm trí phải biết tin ai và mến ai nhờ đức tin, và tại sao tin và mến, trước khi có đức ái và đức cậy.
Gradual
Ca tiến cấp. Là câu đáp và câu xướng cho Thánh thư trước đây trong Lễ hát, và được gọi tên như thế là do ca tiến cấp được hát ở bậc cấp Bàn thờ.
Gradual, Roman
Sách hát lễ Roma. Là cuốn sách phụng vụ chứa các phần hát của Thánh lễ. Nó cùng nằm chung trong bộ sách nghi thức và sách bài đọc. Sách đã được duyệt lại và sách hát lễ Roma mới được cho phép sử dụng vào ngày 24-6-1972.
Graffiti
Hình hay chữ viết trên tường. Chữ viết hay hình vẽ nguệch ngọac trên các công trình, ngôi mộ và vách tường của cơ sở Kitô giáo. Chúng có giá trị đặc biệt về lịch sử trong việc minh chứng đức tin và tập tục của Giáo hội sơ khai.
Grasping
Tham lam, keo cú. Là ước muốn ích kỷ về sở hữu, nhất là sở hữu của cải vật chất. Nó hàm chứa sự háo hức (do đó hám lợi) và tính quá mức (do đó tham lam) và thiếu tự chế (do đó quá tham lam), nhưng nó còn có thêm khái niệm khả năng sở hữu và sử dụng các phương tiện sai trái hoặc bất công.
Grat
Grat, Gratias – cám ơn; hoặc gratis – miễn phí.
Gratitude
Lòng biết ơn, tri ân. Là nhân đức qua đó một người nhìn nhận, trong lòng và bề ngòai, các ơn đã nhận được và tìm cách làm cái gì đó để trả ơn lại. Nói chung lòng biết ơn bao gồm một thái độ nội tâm, một tấm lòng tri ân, nhưng khi cần cũng cố gắng tỏ lộ ra bằng lời nói và việc làm. Kết quả là nó có ba yếu tố: công nhận là đã nhận được ơn hay quà tặng, sự cảm phục được diễn tả bằng lòng cám ơn, và khi có thể được, tặng lại cái gì đó cho món quà đã được tặng miễn phí mà không có sự đòi hỏi gì về phía người tặng.
Gratuitous Grace
Ơn nhưng không. Là ơn miễn phí trao cho những người đặc biệt để cứu độ người khác. Về mặt kỹ thuật nó được gọi là gratia gratis data (ơn trao nhưng không), nó là độc lập với đời sống luân lý cá nhân hoặc tính tình của người sở hữu nó. Trong lớp ơn nhưng không còn có các ơn đặc sủng hay đòan sủng (nói tiên tri, ơn làm phép lạ, ơn ngôn ngữ), quyền truyền phép và xá giải của linh mục, và thẩm quyền tài phán phẩm trật.
Grave
Phần mộ, huyệt, nấm mồ. Nơi được đào trong lòng đất để chôn một thi hài trong quan tài, và đôi khi trong một hòm gỗ bên ngòai, hoặc cái thùng lớn hay hòm mộ xi măng. Giáo hội yêu cầu phải làm phép tất cả các phần mộ, nơi tín hữu được mai táng.
Grave Inconvenience
Sự bất lợi nghiêm trọng. Trong thần học luân lý, là một lý do đủ để miễn cho một người khỏi thi hành một số giới luật của Giáo hội, hoặc người ấy không bị ràng buộc bởi luật tự nhiên hay luật mặc khải. Cũng còn là lý do đủ để hõan hay thậm chí không thực hiện một số việc, nếu không buộc, miễn là có ý muốn chân thành để làm.
Gravissimum Educationis
Tuyên ngôn Gravissimum Educationis (Vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục), Tuyên ngôn của Công đồng chung Vatican II về Giáo dục Ktô giáo. Mục đích của tuyên ngôn này gồm có ba phần. Tuyên ngôn nói rằng mọi Kitô hữu có quyền hưởng một nền giáo dục xứng hợp; tuyên ngôn nhắc nhở cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của con cái; và cảnh báo các tín hữu phải loại trừ mọi chế độ độc quyền học hiệu. Trường Công giáo ở mọi cấp, kể cả đại học, được khuyến khích mở ra, các giáo viên được ca ngợi, và Giáo Hội có quyền thiết lập và điều khiển “các trường thuộc các cấp và các ngành” (Ngày 28-10-1965).
Greater Antiphons
Các điệp ca lớn. Là các điệp ca giờ Kinh Chiều trong bảy ngày trước lễ Chúa Giáng Sinh, mỗi điệp ca bắt đầu với một chữ "O," nên gọi là “các chữ O lớn”, theo thứ tự như sau: O Sapientia (Ô lạy Ngôi Lời Khôn Ngoan thượng trí), O Adonai (Ô lạy Chúa là Thủ Lĩnh nhà Ít-ra-en), O Radix Jesse (Ô lạy Đức Kitô là Mầm non từ gốc Gie-sê), O Clavis David (Ô lạy Đức Kitô Ngài nắm giữ chìa khóa Đa-vít), O Oriens (Ô lạy Đức Kitô là Vừng Đông xuất hiện), O Rex Gentium (Ô lạy Đức Kitô là Vua Muôn Nước), O Emmanuel (Ô muôn lạy Đức Em-ma-nu-en).
Greater Doxology
Vinh tụng ca lớn. Là Kinh Gloria in Excelsis Deo (Kinh Vinh Danh), được đọc hay hát trong Thánh lễ. Nó trái với Vinh tụng ca nhỏ, tức kinh Gloria Patri (Kinh Sáng Danh).
Greater Litanies
Kinh cầu lớn. Là cuộc rước kiệu trong ngày lễ thánh Marcô (ngày 25-4), trong đó người ta có thói quen hát Kinh Cầu Các Thánh. Việc rước kiệu và đọc kinh cầu này đã có từ thời thánh Gregory Cả (qua đời năm 604), khi tập tục được đưa vào để thay thế cho lễ Robigalia ngoại giáo cũng được mừng vào ngày này.
Great Promise
Lời hứa lớn lao. Là lời hứa thứ 12 trong 12 lời hứa mà Thánh Tâm Chúa đã tỏ lộ với thánh nữ Margaret Mary Alacoque (1647-90). Lời hứa này là: “Ta hứa với các con trong lòng thương xót quá độ của Trái Tim Ta rằng, tình yêu đầy quyền năng của Ta sẽ ban cho những ai dự Lễ Thứ sáu đầu tháng trong chín tháng liên tiếp cái ân sủng của sự sám hối cuối cùng; họ sẽ không chết trong sự ruồng bỏ của Ta hoặc không thể nhận được những Bí Tích; Thánh Tâm Ta sẽ là nơi ẩn náu an toàn của họ trong giây phút cuối cùng này." Cùng với các lời hứa khác, Lời Hứa Lớn Lao này đã được Giáo hội mặc nhiên công nhận nhân lễ phong thánh của Margaret Mary (năm 1920) và trong các qui chiếu phù hợp với mặc khải cho thánh nữ trong văn kiện của các Giáo hoàng, chẳng hạn Đức Giáo hoàng Pius XII trong thông điệp Haurietis Aquas (‘Sẽ hân hoan múc nước’, năm 1956).
Great Relics
Thánh tích lớn. Là ba thánh tích trong cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô, được bảo quản tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma, và được tôn kính trong bốn ngày cuối cùng của Tuần Thánh, Chủ nhật Phục Sinh, và vào một số dịp đặc biệt. Đó là một mảnh của Thập giá thật, lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn Chúa Cứu Thế, và tấm khau lau mà theo truyền thống cho biết, thánh nữ Veronica đã dân cho Chúa Kitô trên đường lên đồi Calvary (Can-vê).
Great Schism
Đại ly khai Tây phương. Cuộc đại ly khai Tây phương xảy ra từ năm 1378 đến năm 1417, khi có cuộc tranh luận về sự kế vị thật sự cho chức Giáo hoàng. Đại ly khai khởi đầu với các bài viết của Marsilius thành Padua (khỏang năm 1275-khỏang năm 1342), khi ông cho rằng Giáo hoàng phải lệ thuộc vào một hội đồng các Giám mục, Linh mục và Giáo dân. Đức Giáo hoàng Urban VI được bầu làm Giáo hoàng ngày 8-4-1378, sau 70 năm các Giáo hoàng cư ngụ ở Avignon (Pháp). Ngài là một nhà cải cách cứng rắn và cũng gay gắt. Để trả đũa, các Hồng y Pháp tuyên bố rằng Đức Urban không được bầu chọn cách hợp lệ và tiến hành bầu Robert thành Geneva làm ngụy Giáo hòang Clement VII (1378-94). Giáo hoàng Clement rút về sống ở Avignon, và cuộc Đại ly khai trở nên sôi nổi hoàn toàn. Các nước Pháp, Scotland, và Tây Ban Nha là trung thành với Giáo hòang Clement; trong khi các nước Anh, Ý, Flanders, Hungary, Ba Lan và phần lớn nước Đức trung thành với Giáo hòang Urban, ngài qua đời năm 1389. Tiếp theo sau đó có sự kế vị hợp pháp cho các Giáo hoàng ở Roma và ngụy Giáo hoàng ở Avignon. Các đại học Paris, Oxford, và Prague tranh luận cách thức giải quyết vấn đề. Cuối cùng Giáo Hoàng và ngụy Giáo hoàng được mời đến dự một công đồng ở Pisa (năm 1409); nhưng cả hai vị từ chối tham dự và bị công đồng tuyên bố hạ bệ, sau đó công đồng tiến hành bầu một ngụy Giáo hoàng khác là Giáo hòang Alexander V (năm 1409-10). Trong nỗi tuyệt vọng Hoàng đế Đức Sigismund kêu gọi ngụy Giáo hòang Gioan XXIII ở Pisa hãy triệu tập một công đồng chung ở Constance, một thành phố Đức bên bờ sông Rhine. Giáo hoàng Gioan đồng ý, và công đồng, được hợp thức hóa sau đó, diễn ra từ năm 1414. Công đồng kéo dài bốn năm và đã giải quyết được cuộc Đại ly khai. Ngụy Giáo hòang Gioan XXIII ở Pisa thóai vị. Đức Giáo hòang Gregory XII, vị Giáo chủ đích thực, đã chính thức triệu tập công đồng Constance, gửi các đại diện của mình tham dự, và vì lợi ích của Giáo hội, ngài đã tự ý thoái vị. Sự đòi hỏi quyền bính của Giáo hòang Benedict XIII ở Avignon không còn đáng được xem xét nữa. Ngai tòa của Phêrô, bị trống ngôi, đã lại có chủ thật sự, với cuộc bầu chọn Đức Giáo hòang Martin V ngày 11-11-1417. Cuộc đại ly khai chấm dứt từ đó.
Great Silence
Thinh lặng lớn. Là các khoảng thời gian thinh lặng hoàn toàn, được tuân giữ ở các cộng đoàn tu sĩ, thường là từ giờ kinh đêm cho đến sáng hôm sau. Tập tục này có từ thuở đầu nếp sống đan tu trong thế kỷ thứ ba.
Greed
Tham lam, tham tiền, thèm khát, hám của. Nó bao hàm sự đam mê kiểm sóat tiền bạc hay của cải, và gợi ý một sự ham muốn lộn xộn không quá mạnh và thường liên kết với sự thèm khát quyền lực.
Greek
Tiếng Hi Lạp. Là ngôn ngữ của Tân Ước và là nền văn hóa chủ lực của thế giới Địa Trung Hải, trong đó Kitô giáo được thiết lập trước tiên, sau nguồn gốc ở Palestine. Ý nghĩa của tiếng Hi Lạp trong các sách Tân Ước nằm trong sự việc rằng nó đã trở thành ngôn ngữ đầu tiên làm chủ thể quản thủ cho mặc khải Kitô giáo, và mãi là qui phạm cho ý nghĩa gốc của bản văn linh ứng. Tầm quan trọng của ngôn ngữ này như một nền văn minh nằm trong sự phát triển tri thức tuyệt vời, mà thánh Phaolô gọi là sự khôn ngoan (sophia), của người Hi Lạp và do đó đã trở thành sự nhập thể văn hóa của Giáo hội như là Vương quốc của Đấng Thiên sai. Sau đó có sự liên kết quan phòng của người Do Thái, vốn là Dân Chúa chọn và Chúa Kitô sinh ra giữa Dân này; và người Hi lạp, là người văn minh nhất thời ấy, và chính Đức Kitô Nhiệm thể bắt nguồn từ dân này như là một hội của các tín hữu.
Greek Cross
Thánh giá Hi Lạp. Là biểu tượng thay thế chữ Chi-Rho như là biểu trưng cho Chúa Kitô. Thánh giá này có chiều dài bằng nhau, tạo thành bốn góc bằng nhau. Nó được sử dụng ở Đông phương nhiều hơn ở Tây Phương, nhất là kể từ cuộc Ly khai Đông Tây vào thế kỷ 13.
Greek Love
Tình yêu Hi Lạp, đồng tính luyến ái nam. Là từ ngữ dùng thay cho đồng tính luyến ái nam, phát sinh từ thói quen tính dục thường có giữa người nam với nhau thời cổ đại Hi Lạp. Cũng còn gọi là pederasty (lọan dâm hậu môn), nhất là khi một trong các người tham gia là bé trai.
Greek Rites
Lễ điển Hi Lạp. Là hình thức và sự sắp xếp của phụng vụ, nguyên thủy được cử hành ở Antioch và Alexandria của Hi Lạp. Phụng vụ được sử dụng ngày nay ở Antioch là lễ điển Hi Lạp thuần túy và sửa đổi của thánh Giacôbê, lễ điển Syria của thánh Giacôbê, lễ điển Maronite, lễ điển Chaldean, lễ điển Malabar, lễ điển Byzantine, và lễ điển Armenian. Tại Alexandria là các lễ điển Coptic của thánh Cyril, thánh Basil, thánh Gregory Nazianzus, và phụng vụ Ethiopia.
Green Scapular
Bộ áo Đức Bà màu xanh. Là bộ áo nổi tiếng Trái tim Vẹn sạch Đức Mẹ Maria. Bộ áo được làm bằng vải nỉ màu xanh, và ở mặt chính có ảnh Đức Trinh nữ Maria, với các tia sáng tỏa ra từ Trái tim Mẹ. Ở mặt bên kia là ảnh của Trái Tim Mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu qua, và chung quanh có dòng chữ: “Lạy Trái Tim Vẹn sạch Đức Mẹ, xin cầu cho chúng con khi này và trong giờ lâm tử.” Bộ áo này nổi tiếng vì đã đem nhiều người trở về với Giáo hội, và với Bí tích xá giải, thậm chí sau nhiều năm xa rời đức tin.
Gregorian Calendar
Lịch Gregorian. Là lịch ghi ngày, tuần, tháng của năm hiện nay. Lịch được dùng hiện nay là lịch của Đức Giáo hòang Gregory XIII, với sắc lệnh thiết lập nó vào năm 1582. Trước đó chiều dài một năm là thuần túy thời gian Trái đất chạy một vòng chung quanh Mặt trời. Lịch lúc đó gọi là lịch Julian, nó không chính xác bởi vì thời gian Trái đất quay chung quanh Mặt trời là chưa tới 365 ngày và ¼ ngày. Sai lầm này đã làm cho dư tới 10 ngày vào triều đại Giáo hòang Gregory. Để chỉnh sai lầm này, người ta tính toán rằng ngày thêm của năm nhuận sẽ không xảy ra trong năm đầu của một thế kỷ, nếu năm ấy có thể chia được cho 400, do đó năm 1600 và năm 2000 là năm nhuận, trong khi năm 1700, 1800 và 1900 không phải là năm nhuận. Đức Giáo hoàng quyết định xóa bớt 10 ngày trong năm 1582, và buộc mọi tín hữu tuân theo lịch mới điều chỉnh của Ngài. Theo lịch Gregorian, sẽ có một sai lầm là dư một ngày trong mỗi 35 thế kỷ. Hai nhà thiên văn Lilius và Clavius đã làm các phép tính cần thiết. Lúc đầu các quốc gia Tin Lành từ chối sử dụng lịch Gregorian. Nước Anh không dùng lịch này cho tới năm 1752. Các Giáo hội Đông phương dần dà chọn sử dụng lịch này.
Gregorian Chant
Bình ca, nhạc Gregorian. Là các hình thức phụng tự bằng âm nhạc, được Đức Giáo hoàng Gregory I duyệt lại và thiết lập. Nó không có nhịp điệu cố định và có lẽ tích lũy từ các nguồn Do Thái cổ. Nó được chấp nhận như là nhạc cổ nhất trong sự sử dụng hiện nay. Hình thức duyệt lại hiện nay của nó phần lớn là nhờ nỗ lực và khả năng sáng tạo của các đan sĩ tại Đan viện Biển Đức ở Solesmes, miền tây bắc nước Pháp.
Gregorianist
Người giỏi bình ca. Là người giỏi về bình ca, và cổ vũ “bình ca là loại hát riêng của phụng vụ Roma, là lọai hát thừa hưởng từ các giáo phụ xưa kia, được Giáo hội nghiêm cẩn giữ gìn trải qua các thế kỷ trong các sách phụng vụ của mình, và luôn luôn giới thiệu với các tín hữu như là âm nhạc riêng của mình” (Thánh Giáo hòang Piô X, Tự sắc “Tra le Sollecitudini, Một trong những mối quan tâm” về thánh nhạc, 1903).
Gregorian Masses
Lễ 30 ngày. Là việc cử hành 30 thánh lễ cầu hồn vào các ngày liên tiếp cho một người đã qua đời, để cứu thoát linh hồn ấy khỏi luyện ngục, nhờ sự miễn chuẩn rộng lượng của lòng nhân từ Chúa. Giáo hội đã tuyên bố rằng niềm tin của các tín hữu vào hiệu năng của Lễ 30 ngày là đạo đức và hợp lý (Thánh bộ các Ân xá, ngày 24-8-1888). Có thể cử hành nhiều loạt Lễ 30 ngày, nhưng không dành cho hơn một người quá cố trong một lần. Các hoa quả đặc biệt của lễ 30 ngày cũng chỉ áp dụng cho người quá cố. Nhưng Lễ 30 ngày không cần phải do một linh mục cử hành mà thôi, hoặc không đòi buộc chỉ ở một bàn thờ mà thôi. Niềm tin vào hiệu năng của Lễ 30 ngày là dựa vào một mặc khải tư với thánh Giáo hòang Gregory I.
Gregorian Sacramentary
Sách nghi lễ Gregorian. Là một cuốn sách phụng vụ được gán cho thánh Giáo hòang Gregory I, và đôi khi được gọi là sách nghi thức Adrian I. Sách chứa bản văn gốc và nhiều phần thêm vào do các ký lục thực hiện. Sách gồm có ba phần: 1. phần chung Thánh lễ; 2. phần riêng của Thánh lễ trong năm, bắt đầu vời lễ Vọng Giáng sinh, nhưng không có các Chủ nhật sau lễ Hiển Linh và lễ Hiện Xuống; và 3. các kinh nguyện nghi thức cho lễ truyền chức chức.
Gregorian Water
Nước thánh cung hiến. Là nước thánh dùng trong nghi thức cung hiến một nhà thờ. Nước thánh này có rượu nho, muối và tro, và đòi hỏi một công thức riêng để làm phép nước này. Tên nước thánh phát sinh từ sự việc rằng nó được sử dụng theo quy định của thánh Giáo hòang Gregory I.
Gremial
Khăn phủ đầu gối. Là chiếc khăn phủ trên đầu gối của vị Giám mục trong các nghi thức phụng vụ. Chiếc khăn trước đây được làm bằng vải tơ lụa và được thêu trang trí đẹp, cùng màu với màu áo lễ trong ngày cho thánh lễ đại triều, đã bị hủy bỏ không sử dụng nữa. Một tấm vải hoặc một khăn phủ khác có thể được sử dụng khi cần thiết. (Từ nguyên latinh gremium, vạt áo, ngực áo.)
Grey Nuns
Nữ tu áo Nâu, Nữ tu Bác ái. Là tên phổ thông để gọi các Nữ tu Bác ái ở nhiều quốc gia. Nổi tiếng nhất là Nữ tu Bác ái của Tổng y viện Montreal, do bà d'Youville sáng lập năm 1739. Ngoài ba lời khấn tiêu chuẩn, các thành viên Dòng còn hứa tận hiến đời mình cho việc làm giảm nỗi đau khổ của con người. Trong các nhánh Dòng khác, đáng chú ý nhất là Nữ tu Bác ái Thánh Giá, được thành lập tại Ottawa năm 1845. Tại Đức, có tu hội mang tên Nữ tu Bác ái thánh Elizabeth.
Gridiron
Vỉ nướng. Là biểu tượng của thánh Lawrence phó tế. Chịu tử vì đạo năm 258 khi bị nướng sống trên vỉ nướng. Khoảng thế kỷ thứ tư, Ngài được tôn kính như một trong các thánh tử đạo nổi tiếng của Roma, và được đưa tên vào Lễ Quy. Thánh Vinh Sơn (qua đời năm 304), một phó tế Tây Ban Nha chịu tử vì đạo theo cách như thế, cũng có vỉ nướng làm biểu tượng cho mình.
Grievous Matter
Vấn đề trầm trọng, vấn đề nặng. Là các bổn phận luân lý ràng buộc theo tội trọng. Sự trầm trọng của vấn đề được xác định bởi đối tượng và hoàn cảnh của hành động (hay sự quên sót), và được biết đến trước hết bởi quyền giáo huấn của Giáo hội, dựa vào mặc khải của Chúa. Một số tội không nhìn nhận vấn đề nhẹ, và đó là tội trọng “từ bản tính trọn vẹn của nó” (ex toto genere suo), chẳng hạn tham dục và phạm thượng. Trong các tội khác, vấn đề không luôn là nghiêm trọng, như trong tội ăn cắp hoặc lỗi công bằng, và đó là tội trọng “từ bản tính của nó” (ex genere suo). Tuy nhiên trong mọi trường hợp, để có tội trọng cần phải có sự hiểu biết đầy đủ của tâm trí rằng vấn đề là nghiệm trọng, và sự đồng ý hoàn toàn của ý chí để làm hoặc không làm điều, mà người ta biết là một lệnh truyền nặng hoặc sự cấm đóan nghiêm trọng.
Grille
Lưới sắt, tường chấn song. Là một bình phong hoặc tấm phân cách, đôi khi gọi là nội cấm, thường được làm bằng kim loại với nhiều lỗ hở trên đó. Trong nhiều thế kỷ, nó xác định khu vực nội cấm cho các Dòng nữ tu có nội vi Giáo hoàng. Việc sử dụng tường chấn song, và nếu sử dụng, việc xây dựng nó đã được điều chỉnh kể từ Công đồng chung Vatican II, nhưng vài biểu tượng bề ngoài của nội vi là một phần của các chỉ thị Giáo hội về nội vi của các Dòng nữ chiêm niệm. Một lưới che, trong hình dạng kim loại, gỗ hoặc bình phong bằng nhựa, cũng là một phần của tòa giải tội. Lưới này ngăn cách cha giải tội và hối nhân; nó cho phép hai bên nói với nhau mà không nhìn thấy nhau. Mục đích của lưới là bảo vệ sự nặc danh của hối nhân, bởi vì tín hữu có quyền không bị nhận dạng bởi cha giải tội khi lãnh bí tích xá giải.
Grotesque
Kỳ cục, lố bịch, kệch cỡm. Là bất cứ sự gì lạ kỳ, lập dị, hoặc ngông cuồng. Trong mỹ thuật, đó là sự xấu xí được lý tưởng hóa, như trong một số hình dạng con vật hoặc con người, do danh họa Raphael vẽ tại Vatican.
Grottaferrata
Tu viện Grottaferrata. Là tu viện dòng thánh Basiliô, cách Frascati (Ý) khoảng ba dặm (4,8km), do thánh Nilus, một người Hi Lạp Calabrian, thành lập năm 1004. Trong thời gian lâu dài là trung tâm nghiên cứu và nghi lễ Hi Lạp, tu viện trở thành một di tích quốc gia vào năm 1874. Kể từ đó, một số hang toại đạo lớn thuộc tu viện được phát hiện; chúng còn nguyên vẹn từ thời đầu của Kitô giáo.
Grotto
Hang nhỏ. Là một cái hang hoặc cái động nhỏ, thường liên quan đến các cuộc hiện ra linh thiêng hoặc các cảm nghiệm siêu nhiên khác, chẳng hạn ở Lộ Đức (Pháp) và Manresa (Tây Ban Nha).
Guadalupe
Đền thánh Đức Mẹ Guadalupe. Là một đền thánh dâng kính Ðức Trinh Nữ Maria ở ngoại ô thủ đô Mexico, miền trung nước Mexico. Là một trong các đền thánh quan trọng của Thiên Chúa Giáo. Đây là nơi diễn ra cuộc hiện ra của Đức Mẹ vào tháng 12-1531 với một nông dân người bản địa Aztec, tên là Juan Diego, 51 tuổi. Ông và vợ ông là người mới trở lại đạo. Ðức Mẹ hiện ra trên một triền đồi gần ngôi đền của người Aztec tại Tepeyac, và nói với ông Juan rằng Đức Mẹ muốn một thánh dường được xây tại đó. Khi Ðức Giám mục Zumarraga xin một dấu chỉ, Juan được Ðức Mẹ hướng dẫn hái vài hoa hồng (không vào thời nở hoa), rồi ông đem tới cho Ðức Giám mục, và phát hiện chiếc áo ông đang mặc có in hình kỳ diệu của Mẹ Thiên Chúa. Mặc dù vải áo là một loại vải thô làm bằng sợi cây xương rồng và hoàn toàn không thích hợp cho một tranh vẽ như thế, bức tranh vẫn giữ nguyên vẻ sáng láng mãi và là tranh thờ chính yếu tại đền thánh Guadalupe. Một ngôi thánh đường, được cung hiến vào năm 1709, được nhiều triệu người đến viếng mỗi năm, và vô số phép lạ đã xảy ra nơi đó. Một vương cung thánh đường mới được cung hiến tại khu vực đền thánh vào năm 1976. Thông điệp chính của Ðức Mẹ Guadalupe, được tỏ lộ trong lần hiện ra đầu tiên trong năm lần hiện ra của Mẹ, được bảo quản trong một tài liệu cổ. Đức Mẹ nói với Juan Diego: “Con phải biết, và phải tin thật trong lòng rằng, hỡi con của Mẹ, Ta thật là Ðấng Trọn Ðời Ðồng Trinh, là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa thật, chúng ta sống nhờ ân huệ của Ngài, Ðấng Tạo Thành, Chúa của trời cao và Chúa của Trái đất.” Ngày 27-1-1979, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khai mạc tại Guadalupe Hội nghị lần thứ ba của các Giám mục Nam Mỹ. Năm 1910, thánh Giáo hoàng Piô X đã chọn Ðức Mẹ Guadalupe làm quan thầy Giáo hội Nam Mỹ, và năm 1945 Đức Giáo hoàng Piô XII tuyên bố Đức Mẹ Guadalupe là quan thầy của tòan châu Mỹ. Lễ kính Đức Mẹ Guadalupe là ngày 12-12 hàng năm, và là lễ buộc ở Mexico.
Guardian
Giám hộ, Thủ viện, Bề trên nhà. Trong luật Giáo hội, là một người chính thức chịu trách nhiệm chăm sóc một người không thể điều khiển công việc của mình được, chẳng hạn một trẻ nhỏ trong thời vị thành niên hoặc một người khuyết tật tâm thần hay tình cảm. Hiện nay Giáo hội cho phép các giáo sị hay tu sĩ, trong trường hợp đặc biệt, có thể làm giám hộ. Bề trên một tu viện dòng Phanxicô cũng được gọi là thủ viện.
Guardian Angel
Thiên thần hộ thủ, thiên thần bản mệnh. Là một thiên thần được Chúa chỉ định trông nom mỗi cá nhân suốt đời. Giáo lý chung về việc thiên thần hộ thủ cho mỗi người là một phần của truyền thống lâu đời của Giáo hội, dựa vào Kinh thánh và giáo huấn của các Giáo phụ. Vai trò của thiên thần hộ thủ là vừa hướng dẫn vừa là bảo vệ; hướng dẫn với tư cách là người chuyển ý Chúa cho tâm trí, và bảo vệ với tư cách là một khí cụ của lòng nhân lành Chúa trong việc bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ. Việc bảo vệ khỏi sự dữ này chủ yếu là khỏi sự xấu của tội lỗi và sự hiểm độc của ma quỷ. Nhưng cũng là sự bảo vệ khỏi sự xấu thể lý, trong khi là cần thiết để gìn giữ linh hồn khỏi sự nguy hại thiêng liêng. Một lễ mừng các thiên thần hộ thủ được định vào tháng 10 mỗi năm trong khắp Giáo hội, kể từ thế kỷ 17. Hiện nay lễ này được mừng vào ngày 2-10 hàng năm.
Guesthouse
Nhà khách. Một trong các phần nhà của một tu viện hoặc tu hội, dùng để đón tiếp và làm nơi tạm ở cho khách mời và khách ghé thăm.
Guest Master
Người coi nhà khách. Cũng gọi là “obedientiary” (viên chức tu viện), là một thành viên của tu viện có trách nhiệm coi sóc nhà khách, và nói chung phụ trách tiếp đón các khách đến tu viện.
Guidance
Hướng dẫn, dìu dắt, chỉ đạo. Là giúp đỡ người khác sử dụng cách tốt nhất các khả năng tâm trí và đạo đức của họ, và hưởng lợi từ các cơ hội thuận tiện cho họ.
Guilt
Điều sai quấy, tội lỗi, phạm lỗi, lỗi lầm. Là điều kiện của một người đã làm điều sai về luân lý, do đó người ấy ít nhiều bị ly gían bởi người bị xúc phạm, và người ấy đáng bị trừng phạt trước khi có thể được thứ tha và chuộc lỗi. (Từ nguyên Anglo-Saxon gylt, phạm lỗi, xúc phạm; còn là hình phạt cho sự phạm lỗi.)
Gunpowder Plot
Âm mưu thuốc súng, mưu phản thuốc súng. Là một âm mưu trong lịch sử Cải cách ờ nước Anh, do Guy Fawkes và một số người chủ trương, để cho nổ trụ sở Quốc hội ở London năm 1605. Guy Fawkes và các kẻ đồng chủ mưu khác bị phát giác và bị kết án tử hình. Đây là một mưu toan nhằm đổ tội cho Giáo hội bằng cách bắt giữ các linh mục Dòng Tên Greenway và Garnett, và các kẻ chủ mưu đã xưng tội lần sau cùng với hai linh mục này. Nhưng các linh mục đã giữ bí mật ấn tòa giải tội. Henry Garnett bị xử tử năm 1606. Một tác dụng của âm mưu trên là sự chuyển qua sử dụng các biện pháp mới quyết liệt để bách hại ngưởi Công giáo.
Gynaeceum
Khuê khổn, khuê phòng. Là một phần trong nhà thờ Công giáo nghi lễ Đông phương đôi khi dành cho phụ nữ tham dự việc phượng tự. Trở lại với thời đầu của Kitô giáo, việc phân chia khu vực cho nữ tín hữu nữ vẫn thường có trong cả Giáo hội Công giáo lẫn các giáo hội Đông phương ly khai, và cũng được thực hiện một cách ít tổng quát hơn trong các nghi lễ khác, tùy vào truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc.
Györ
Đền thánh Đức Mẹ Györ. Là đền thánh dâng kính Mẹ Maria ở phía tây thành phố Budapest, Hungary. Đối tượng chính của việc tôn kính là một bức tranh Mẹ Maria đang cầu nguyện, mắt nhìn vào Chúa Hài Nhi đang ngủ. Năm 1649, khi Oliver Cromwell đến Ireland, vị Giám mục vùng Clonfert, thuộc giáo phận Tuam, bị bắt và bị lưu đày tới đảo Innisboffin. Ngài mang theo một bức ảnh, và treo trong nhà thờ chính tòa. Năm 1652 ngài trốn thoát và cuối cùng đến Hungary, nơi ngài được chân thành đón tiếp. Trong thành phố Gyor, ngài được bổ nhiệm làm giám mục phụ tá cho giáo phận Hungary. Trước khi qua đời, ngài để lại bức ảnh Ðức Mẹ Ireland cho các người bạn Hungary của ngài. Họ cảm thấy sự hiện diện của Mẹ ở giữa họ đã cho họ chiến thắng trong các trận đánh với quân Thổ Nhĩ Kỳ, và đã cứu họ trong các tai họa quốc gia khác. Năm 1697 sự bách hại đạo tại Ireland được nối lại. Cùng lúc đó tại Hungary ngày 17-3-1697, hàng trăm người đang cầu nguyện trong thánh lễ tại nhà thờ chính tòa đã nhìn thấy ảnh tượng Ðức Mẹ Ireland đang chảy nước mắt xuống đầu Chúa Hài Nhi đang ngủ. Phép lạ đã kéo dài trong ba giờ. Bức ảnh được lấy ra khỏi khung và khỏi chỗ treo trên tường, để tìm ra liệu có nguyên nhân tự nhiên nào không, nhưng hiện tượng vẫn tiếp tục xảy ra, và được nhiều chứng nhân làm chứng. Việc tôn kính Ðức Mẹ Gyor tiếp diễn qua nhiều thế kỷ. Ðức Hồng y Mindszenty (1892-1975) được chụp hình khi ngài công khai cầu nguyện trước ảnh tượng Ðức Mẹ Ireland quý báu, ngài cầu xin Chúa chúc phúc cho dân ngài đang bị bách hại.
Nguyễn Trọng Đa
See Also